Phần 2

Cuối Đường

Hồi Kư cuả Vương Mộng Long, Khóa 20


       . . . . . . .

       Súng của tôi lại hết đạn rồi.  Tôi trườn ra giữa đường để nhặt khẩu AK và giây đạn của tên du kích.  Khẩu đại liên của Trung sĩ Tài đă găy làm đôi.  Hai em bé tải đạn cho Tài đều chết v́ trúng đạn 12,7 ly.  Trung sĩ Tài đang lăn lộn trên vũng máu.  Tôi lăn ḿnh vài ṿng, tới bên Tài.  Tài nh́n tôi, thều thào,

       "Chạy đi!...  Ông thày...  chạy đi!..."

       Tôi định xốc Tài lên để d́u anh vào lề đường th́ hai mắt anh đă lạc.  Đạn bay xém bên ḿnh tôi, nổ "toang toác!" trên mặt lộ.  Chợt ai đó nắm sợi dây ba chạc sau lưng tôi, lôi tôi chạy về bờ ruộng bên trái quốc lộ.

       - "Anh em chết hết rồi . Chạy đi, thày ơi!"   Đó là tiếng Trung úy Trâm.

        "Toác!  Toác!"  - "Chíu! Chíu!"  đạn địch đuổi theo.  Tôi cắm đầu chạy.  Chạy được một đỗi th́ tôi đuối sức, lảo đảo.  Trâm bèn ghé vai, vác tôi lên lưng.  Trâm khỏe như một đô vật.  Trâm cơng tôi, nhanh chân lẩn vào rặng dừa bên trái lộ.  Hết vạt dừa, Trâm đặt tôi xuống đất.  Chúng tôi lội trên mảnh ruộng vừa gặt xong.  Chân tôi vướng gốc rạ.  Tôi ngă bổ nhào trên mặt ruộng.  Trên mặt ruộng có những đồ chơi của trẻ con vương văi đó đây.  Một con búp bê bằng nhựa, một cái xe hơi bằng nhựa, những chén bát nhỏ tí, cũng bằng nhựa, màu mè xanh đỏ.  Tôi chợt nhớ tới gia đ́nh vợ con tôi ngoài Ban Mê Thuột.  Chắc vợ con tôi đă chết hết.  Tôi nghĩ tới đất nước tôi.  Đất nước tôi đă mất.  Đơn vị tôi đă tan tác.  Một phút bất thần, phẫn uất, tôi rú lên như con thú,

       - "Ôi!...  Ôi!...  Ông Trời ơi!...  Ông Trời ơi! ...ơi. ..ơi..."

       Tôi rút khẩu súng Colt ra, kê ṇng súng vào mang tai ḿnh, bóp c̣.  Bàn tay như sắt nguội của Trung úy Trâm phạt ngang một cú Karaté.  Viên đạn bay lên trời.  Khẩu Colt văng trên mặt ruộng.

       - "Trâm ơi!  Làm ơn! ...  Cho anh chết!  Trâm ơi!..."   Nước mắt dàn dụa, tôi thất vọng, van lơn.  Chẳng nói chẳng rằng, Trung úy Trâm lầm ĺ, xốc vai tôi bước đi.  Ngoài lộ vẫn c̣n lác đác tiếng đạn bắn qua, bắn lại và tiếng lựu đạn nổ.  Trâm lột sợi dây ba chạc của tôi, của anh, mũ sắt của tôi, của anh, vứt trên một g̣ mả.  Trâm từng bước d́u tôi về hướng xóm làng gần đó.  Giờ đó tôi như con sên yếu đuối, mặc cho chú Trâm tha lôi đi đâu th́ đi.  Chúng tôi vừa đụng đầu một con lộ đất th́ một nông dân đạp xe tới chặn đường,

       - "Ông thiếu tá bị thương hả?"

       Thói quen, ngược đời, đi trận tôi thường đeo lon trắng.  Về nhà tôi lại đeo lon đen.  Người dân đă nh́n thấy cặp lon trắng của tôi.  Ông cụ có vẻ động ḷng,

       - "Ông trung úy lấy xe này đưa thiếu tá chạy đi!  Luẩn quẩn ở đây lâu không tốt đâu!"

       -"Cám ơn cụ!"  Trâm lanh tay nhận chiếc xe đạp thồ từ tay người dân tốt bụng.

       Con lộ đất dẫn tới một văn pḥng Hội Đồng Xă, cửa đóng, khóa ngoài.  Rồi con lộ đất dẫn vào một ngôi nhà thờ xứ đạo.  Trong sân nhà thờ, lố nhố nhiều người đang tập trung.  Một cái rờ-moọc xe GMC chất đầy súng ống nằm ngay giữa sân.  Đó đây, từng đống quân trang, quân phục VNCH vừa bị cởi bỏ.  Trâm dựng cái xe đạp ngay giữa sân.  Chú đứng quan sát một phút, rồi thở dài,

       - "Cởi quân phục vứt đi th́ chỉ c̣n cái áo mayor với cái quần xà-lỏn.  Ḿnh làm sao đây, Thái Sơn?"

       Tôi rờ rẫm những khẩu M16 trên chiếc rờ-moọc, "Lên đạn. Dựng khẩu súng thẳng đứng. Đưa ṇng súng vào dưới cằm.  Lách ngón chân vào c̣ súng. Nhấn ngón chân xuống. Thế là xong!"  Tôi đang suy nghĩ, sắp thử một cú tự giải thoát nữa, th́ chú Trâm van lơn,

       - "Thày ơi! Thôi đi thày ơi! Đừng bỏ em, thày ơi! "

Gian Lao        Trung úy Trâm ôm chặt vai tôi, khóc nức nở như một đứa bé.  Thày tṛ tôi ôm nhau. "Hu ... hu... hu...."  Những người đứng gần đó, bị nỗi đau đớn chung lôi cuốn, cũng ôm mặt khóc theo.  Như giữa đám ma, cả một khu sân nhà thờ xứ đạo vang lên tiếng khóc.  Một đám ma không có người chết, mà những người đang đứng đây, chẳng có họ hàng ǵ với nhau, nh́n nhau, ôm nhau, cầm tay nhau, chúng tôi khóc vùi.

       Một thanh niên cưỡi chiếc Honda 90 từ hướng quốc lộ 1 phóng tới. Anh kè sát bên tôi, nói nhỏ :

       - "Thiếu tá lên xe, em chở đi trốn."

       Trâm đẩy tôi lên yên sau xe, chú leo lên theo.

       - "Chúng nó (VC) chết nhiều lắm!  Chúng nó bắt được mấy anh lính bị thương, tra khảo họ xem cấp chỉ huy của họ là ai, đâu rồi?  Họ khai có ông thiếu tá, chắc chết rồi.  Chúng kiểm xác chết.  Không có xác thiếu tá.  Chúng đang túa đi lùng.  Em sẽ đưa thiếu tá đi dấu.  Không để cho chúng nó bắt."

       Xe chạy trong đường làng quanh co một đỗi th́ ngừng.  Anh thanh niên dựng xe, đập cửa một căn nhà gỗ, mái dừa,

        - "Mẹ ơi!  Con đây!  Hải đây!  Mẹ mở cửa cho con!"

       Cánh cửa hé mở, một bà già, tiếng Bắc Di Cư:

       - "Đánh nhau, súng nổ ầm ầm mà mày cứ nhơn nhơn ra đường.  Về nhà đóng cửa lại cho tao đỡ lo!"

       - "Vâng con về ngay.  Mẹ cho con gửi hai anh này.  Có ai hỏi, mẹ cứ nhận là hai con của mẹ.  Anh Cả, anh Hai đi lính vắng nhà lâu rồi, cḥm xóm không nhớ mặt đâu!  Mẹ làm ơn, làm phúc.  Con đi một chút nữa con về ngay.  Mẹ đừng lo!"

       Bà mẹ nh́n tôi và Trâm, bà biết ngay hai đứa chúng tôi là sĩ quan QLVNCH đang bị truy đuổi.  Bà cụ không dài ḍng hỏi han.  Cụ đưa tay chỉ cho tôi cái tủ đứng góc nhà,

       - "Hai đứa lấy quần áo 'si-vin' của thằng Hải mà mặc vào ngay đi!  Đưa quần áo nhà binh cho tao đi dấu!"  Thoáng chốc, tôi và Trâm thành hai anh dân sự.  Bà cụ Bắc Kỳ đă chôn hai bộ rằn ri dưới bùn ruộng muống sau nhà.

       Trước sân, anh thanh niên (Hải) con bà cụ đang bơm lốp xe.  Tôi và Trâm ngồi uống nước vối nóng, nghe ngóng động tĩnh.  Chợt, ngoài đường có tiếng đối đáp,

       - "Anh kia!  Anh có thấy hai thằng lính rằn ri Ngụy chạy qua đây không?"  một giọng Nghệ-Tĩnh gặng hỏi.

       - "Có! Chúng nó chạy thẳng sang hướng Thủ-Đức.  Đấy!  Con đường quẹo phải!  Chổ cây dừa nghiêng..."

       Tên Việt-Cộng chỉ huy liếc mắt vào trong nhà. Thấy tôi và Trâm, nó hỏi trống không,

       - "Chứ hai anh kia làm chi rứa?"

       - "Anh Cả và anh Hai của tôi đó!"  Hải nhanh miệng.

       - "Thưa ông, hai thằng con tôi đi lính ngoài miền Trung.  Tụi nó mới đào ngũ về nhà được mấy tuần.  Xóm này ai cũng biềt."   Bà cụ phân trần.

       Thằng Việt-Cộng hết nghi, quay sang đồng bọn, nó ra lệnh,

       - "Nhanh lên!  Đuổi theo chúng nó nhanh lên!  Hướng cây dừa nghiêng.  Đừng cho chúng nó chạy thoát!  Các đồng chí cẩn thận đấy!  Tụi nó có súng!"

       Rồi tiếng chân người huỳnh huỵch chạy đi, xa dần.  Bà già lấy khoai lang luộc đưa cho chúng tôi ăn đỡ ḷng.  Anh Hải rồ máy xe.  Nửa giờ sau anh trở về,

       - "Thiếu tá đi được rồi!  Quân của chúng nó đi hết rồi."

       - "Hai con có c̣n tiền để đi xe về quê không?  Nếu không mẹ cho!" bà cụ ân cần.

       - "Cám ơn bác.  Chúng cháu c̣n tiền đây.  Chúng cháu mới lănh lương.  Mải lo đánh nhau, chưa tiêu đồng nào."  Tôi cảm động nói không nên lời.  Bà già nh́n chúng tôi, ánh mắt bà chứa ẩn một tấm t́nh thương xót bao la.

       - "Thưa Mẹ!  Con đi!"

       - "Thưa Mẹ!  Con đi!"

       - "Anh đi nhé, Hải!  Cám ơn Mẹ và em vô cùng!"

       Lần đầu tôi gọi một người không sinh ra tôi là Mẹ.  Tôi gọi bà là Mẹ, không ngại ngùng, như thể bà đă là Mẹ tôi, đă sinh ra tôi.  Tôi và chú Trâm bước ra vườn sau, theo bờ ruộng rau muống, leo lên con lộ đá đi về hướng Thủ-Đức.  Tôi biết sau lưng tôi, Mẹ và chú Hải c̣n trông theo.

       Hai đứa tôi nhanh chân nhập vào ḍng người hướng về Thủ-Đức.  Chợt sau lưng tôi có tiếng gọi, "Thái Sơn ơi! Trâm ơi!"    Th́ ra người gọi chúng tôi là Thiếu úy Trần văn Thủy . Ba thày tṛ tôi không dám lớn tiếng hỏi han nhau về những ǵ đă trải qua.  Chúng tôi đi như những người dân chạy loạn đang t́m đường về nhà, sau khi im tiếng súng.  Chúng tôi vào Thủ-Đức.  Nhà nhà, cửa đóng kín mít.  Vài chiếc xe Cảnh-Sát cháy dở dang.  Vài tiệm buôn bị đốt phá.  Trong phố đă xảy ra cướp bóc, hôi của.  Cổng Trung-Tâm Cải-Huấn Thủ-Đức mở toang.  Sân nhà lao vắng tanh.  Tội phạm mới ra khỏi khám đang lộng hành (?)  Nhiều người tay mang băng đỏ chở nhau trên Honda, trên xe Ford Cảnh-Sát.  Xe chạy nhanh như bay, qua lại nhiều lần trên đường phố.  Tới chợ Thủ-Đức, chúng tôi may mắn đón được chiếc xe Lamb chạy đường Thủ-Đức, Thị-Nghè, giá sáu trăm đồng một người.  Chiếc xe Lamb ḅ ́ ạch v́ quá tải.  Xe chúng tôi qua mặt từng đoàn người bận quần đùi, áo thun, chân đất, đang chen vai nhau, đi về hướng thủ đô.  Tôi nhận ra, trong đoàn người áo thun, quần xà lỏn đang đi dưới đường, có Thiếu tá Nguyễn hữu Tài, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 81 Biệt Động Quân.  Có lẽ anh ta cởi bỏ quân phục nơi Đường-Sơn Quán (?)

       C̣n cách ngă ba xa lộ Đại-Hàn chừng hơn trăm mét, chúng tôi phải xuống xe đi bộ ṿng qua một khu ao cá và ruộng nước bên trái quốc lộ, v́ giữa đường có một chiếc tank T54 đang cháy.  Có vài cán binh Cộng-Sản Bắc-Việt ôm AK chặn không cho bộ hành và xe cộ qua lại đoạn đường này.  Lội hết vạt ruộng th́ thày tṛ tôi tới xa lộ Đại-Hàn.  Lúc này, trên xa lộ, tank T54 và xe chuyển quân của CSBV đang nối đuôi nhau hướng về Sài-G̣n.  Sau khi cuốc bộ một đỗi, chúng tôi tới cây cầu đúc.  Qua cầu, chúng tôi lẫn trong biển người xuôi ngược.

       Chúng tôi về tới Thị-Nghè th́ mặt trời xế bóng.  Giữa cầu Thị-Nghè là một chiếc M41 đứt xích v́ B40. C hiếc chiến xa nằm bẹp, bụng xe đè sát mặt cầu.  Trên pháo tháp, có vết máu đă khô, nhưng không thấy xác người chết.  Bên cạnh đó, vương văi vài bộ quân phục Việt Nam Cộng Ḥa, dây đạn, nón sắt, ba lô...

       Tôi không dám về nhà mẹ tôi, sợ trong lúc t́nh h́nh lộn xộn, cḥm xóm biết ḿnh là sĩ quan QLVNCH, sinh chuyện không hay.  Để hai người đàn em chờ trên cầu, tôi đi kiếm nhà người quen, xin cho chúng tôi tá túc.  Nhà anh bạn Nguyễn gia Hân của tôi nằm ngay chân cầu.  Bạn tôi là sĩ quan Cảnh-Sát, Trưởng đoàn pḥng vệ Toà Đại-Sứ Hoa-Kỳ.  Nhà khóa cửa.  Có lẽ gia đ́nh bạn tôi đă di tản rồi.  Tôi trở lại cùng Trâm và Thủy.  Qua cầu, chúng tôi tiếp tục đi.  Bây giờ, trong phố, người qua lại nườm nượp.  Bên lề đường, sát tường rào Sở Thú, những người đi hôi của đang bày bán đủ thứ, chăn màn, quần áo, chén bát, sách truyện, tranh ảnh, rượu bia...

       Quên đời?  Chỉ c̣n cách uống rượu.  Năm trăm đồng một chai Hennessy.  Ba thày tṛ tôi kẹp nách mỗi người một chai.  Tôi vẫy tay chận một chiếc xích lô máy để vào Chợ-Lớn, về nhà Trung úy Trần văn Phước; vừa có nơi lạ để nghỉ qua đêm; xóm giềng không biết ḿnh là ai; vừa t́m xem chú Phước c̣n hay mất.  Chiều rồi, nhưng nhà chú Phước c̣n mở cửa.  Trước nhà là cái bảng hiệu "Chiêm-Tinh Gia Trần-Cẩm, Chuyên Bói Bài, Coi Chỉ Tay, Đoán Vận-Mệnh".  Bác Cẩm là thân sinh của chú Phước.  Xe ngừng, tôi vừa bước xuống đất th́ Phước từ trong nhà ào ra ôm chầm lấy tôi, "Ôi! Anh Hai! Anh Hai! Mừng quá! Anh Hai ơi!"  Th́ ra trong cuộc lui binh dưới mưa pháo ngày 29 tháng Tư, Phước bị tụt lại đàng sau, mất liên lạc với tiểu đoàn. Phước không biết chúng tôi rẽ vào Long-B́nh.  Phước đi thẳng một lèo, theo xa lộ về tới Sài-G̣n.

Hai Người Lính Bị Thương Khi Bảo Vệ Cầu Tân Cảng Sáng Ngày 30-4-75        Đêm 30 tháng Tư bốn anh em tôi ngồi bên nhau, cạn ba chai rượu.  Chú Thủy cho tôi biết rằng, ngay đợt tấn kích đầu của địch, chiếc xe thứ nh́ đă bị thương và chết khá nhiều.  Nhiều BĐQ bị thương đă được dân chúng di tản đi cứu cấp.  Thiếu úy Thủy đă cố gắng mở một mũi bọc hông phải để giải tỏa áp lực địch nhưng không thành công, v́ địch quá đông.  Đến lúc khẩu pḥng không 12,7 ly của địch tham chiến th́ Thủy cho anh em phân tán chạy vào nhà dân.  Sau đó Thủy được dân chúng cưu mang, cho quần áo cải trang rút chạy.  Chú Thủy nói, h́nh như chú Thiều bị thương ngay từ phút đầu, không rơ số mệnh ra sao . Sáng Mồng Một tháng Năm 1975, tôi cho Thủy và Trâm một số tiền để làm lộ phí về quê.  Từ dạo ấy, anh em chúng tôi không c̣n dịp gặp lại nhau nữa.

       Thời gian trôi . . . mười ba năm sau, cũng vào ngày Ba Mươi tháng Tư, đầu làng, cuối xóm, rợp bóng cờ đỏ sao vàng.  Nơi nơi, loa vang vang, bài ca "Mùa Xuân Trên Thành Phố Hồ Chí Minh".  Có một anh Bắc-Kỳ, tuổi lửng lơ, nửa già, nửa trẻ, đạp xe thồ, đèo theo một cái giỏ, đi rao bán cá khô trong khu ngoại ô Thủ-Đức.  Tới căn nhà gỗ, mái dừa, anh bán cá khô vừa mở miệng hỏi thăm, một bà người Xứ Quảng đă mau mắn trả lời :

       - "Đi rồi!  Bán nhà, vượt biên.  Năm, sáu năm rồi!"

       - "Xin cám ơn bà.  Xin cám ơn Trời!"  Anh Bắc-Kỳ mừng rỡ.  Bà chủ nhà . . . nghệt mặt, giương mắt nh́n anh chăm chăm, mà chẳng hiểu ư anh.

       Anh bán cá khô lên xe, đạp từ từ theo con lộ đất.  Xe tới cổng nhà thờ.  Gác chuông lặng câm.  Sân nhà thờ vắng ngắt.  Trên thánh giá, Chúa cúi đầu.  Không biết Chúa có c̣n nhận ra anh không?  Qua văn pḥng Ủy-Ban Nhân-Dân Xă, đến quốc lộ 1, anh quẹo phải, ngừng lại bên đường ngồi nghỉ.  Nơi đây chỉ cách Đường-Sơn Quán vài cây số.  Cũng ngày này, mười ba năm trước, các chiến sĩ của Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân đă tả xung hữu đột trong trận đánh đẫm máu bi hùng cuối cùng.  Những người nằm xuống đă sang thế giới bên kia trong quân phục rằn ri, với cái huy hiệu đầu beo, phía trên phù hiệu đó là một bệt tím có chữ số "82" màu vàng.  Trưa nay, có lẽ dân chúng trong vùng c̣n nhớ tới họ, nên cắm vội bên đường đôi bó nhang, hương khói.

       Anh bán cá khô ngồi xẹp trên lề cỏ, rưng rưng,

       - "Các chú tha lỗi cho anh..."

       Hai bên quốc lộ là rừng bạch đàn.  Những cây bạch đàn lớn lên từ ḷng đất từng thấm đẫm máu của những anh hùng Plei-Me.  H́nh như trong gió, thoảng như ru, có tiếng ai, thiết tha, năo nuột:

       -"Thày ơi!  Chạy đi!...  Thày ơi!..."

       Ngồi bên b́a rừng, đôi mắt Đường-Sơn Đại-Huynh đẫm lệ...

  

* Trích Tập San BĐQ Số 20